Cuộc Sống ở Lý Sơn – Khi Điện Đã Về

Đến Lý Sơn gặp người dân sống trên đảo, có đi nói cho hết chuyện này tới chuyện kia rồi kiểu gì cũng quay lại…chuyện điện.

Cũng phải hơn hai năm rồi kể từ ngày điện lưới quốc gia về với huyện đảo Lý Sơn, nhưng ngày đầu mới đặt chân lên đảo, tôi gặp ba người thì cả ba người đều nói “Mới có điện được hơn năm nay chứ mấy.”.

Hình như điện với người Lý Sơn vẫn còn mới đây lắm. Mới tới nỗi hễ có ai đó nhắc tới chuyện điện đóm, ký ức về những ngày nóng nực vì không quạt, đêm tối thui vì không đèn lại ùa về.

Những người bám đảo

Nhà cô chủ khách sạn tôi thuê là một gia đình Lý Sơn chính gốc. Gia đình cô ở đây cả 4-5 đời rồi, từ thời ông cố của cô cô đã biết ở đấy. Trước đấy thế nào thì cô…bó tay.

Dân Lý Sơn có mặt trên đảo đã từ lâu lắm. Mồ mả, tổ tiên của mỗi gia đình có từ cả chục đời rồi chứ không phải chỉ vài thế hệ như nhiều đảo ở khu vực phía Bắc mà tôi từng được biết.

Từ lúc đến Lý Sơn hễ cứ có cơ hội được nói chuyện với người dân ở đây, bao giờ tôi cũng không quên câu hỏi “Gia đình cô/chú ở nơi khác chuyển tới hay là dân bản địa ở đây ạ?”.

Và điều làm tôi ngạc nhiên là tất cả họ luôn có chung câu trả lời.

Tôi hỏi cô sao mấy đời rồi mà không vào đất liền, tới chỗ này chỗ kia mà làm ăn.

Cô chỉ cười hiền hậu buông ra một câu mà mãi mấy ngày sau ở Lý Sơn tôi vẫn còn thường xuyên được nghe lại: “Thì bám làng giữ đất con”.

“Ngày xưa vô đất liền đâu có dễ, đi bè với đi thuyền buồm cho biển đưa đẩy thôi, đi miết mới tới đất liền.” Cô tâm sự. “Tới thời của cô đi thì cũng bằng ghe với tàu gỗ, vô tới đất liền cũng cả 4-5 tiếng.”

Đình làng xã An Hải, Lý Sơn
Nét truyền thống, cổ xưa trên mỗi công trình kiến trúc ở Lý Sơn

Người dân trên đảo Lý Sơn trước giờ lấy biển làm nghề kiếm sống chính. Họ đánh bắt cả gần bờ cả xa bờ nhưng đi đánh cá xa bờ là chủ yếu. Ngoài đi biển, thu nhập của người Lý Sơn dựa vào củ hành, củ tỏi nhưng hiệu quả kinh tế cho tới hiện nay chẳng ăn thua mà lại quá vất vả.

“Dân chài mình vẫn đi đánh cá ngoài Hoàng Sa chứ cô?” Tôi nghe tới chuyện dân Quảng Ngãi đi biển là nghĩ ngay tới Hoàng Sa liền. Với tôi, Hoàng Sa vẫn là một nơi gợi ra sự tò mò rất lớn.

“Có chứ con. Trước giờ người ta vẫn đi đánh cá ở Hoàng Sa nhiều lắm, mà biển hồi ni không được mấy, nhiều người họ cũng bỏ đi làm nghề khác hết cả.

Sau này nghe thêm nhiều chuyện về Hoàng Sa trong mấy ngày ở Lý Sơn, tôi mới biết trong cuộc sống của người dân trên đảo, Hoàng Sa có ý nghĩa rất lớn.

Điện về trên đảo Lý Sơn

Cô nói mới hơn năm nay Nhà nước kéo đường điện ngầm xuyên biển ra đảo, Lý Sơn mới có điện, chứ vài năm trước đây chỉ nhà nào khá giả mua được máy phát điện thì mới có điện dùng. Những nhà khác muốn có dùng điện thì phải mua điện tư nhân nhưng giá rất đắt. Còn lại chủ yếu dùng đèn, nến để thắp sáng.

“Hồi đó mùa ni mà ăn trưa là cứ vừa lọa mọa ăn vừa lau mồ hôi mướt hết mặt ni nè”. Cô chủ nhà nhớ lại.

Điện về một thời gian thì nước ngọt cũng tới với Lý Sơn.

Nước ngọt trên đảo quý chừng nào chắc khó lòng tả hết.

Tôi còn nhớ như in cái vẻ hồ hởi hết sức của chú chủ nhà khi mời tôi uống cho bằng được một ngụm nước. “Nước chú đun sôi để nguội đấy, con uống đi, xem thử có ngọt không”, giống đang mời tôi dùng một sản vật quý giá.

Nước ngọt Lý Sơn trước đây chủ yếu lấy từ giếng Vua, một cái giếng nằm ngay gần ranh giới hai xã An Vĩnh và xã An Hải. Không biết từ bao giờ mà già trẻ gái trai trên đảo đều thuộc lòng và truyền tai nhau một câu chuyện gắn liền với cái giếng này.

“Cái giếng ni là là do ông vua Gia Long, ông vua Nguyễn Ánh đó, hồi xưa ổng ra đảo mà không có nước ngọt nên ổng sai quân lính đào.” Một thằng nhỏ kể lại cho tôi khi ra giếng lấy nước.

Có lẽ cũng bởi vậy mà người ta đặt tên cái giếng là Giếng Vua.

Giếng Vua (Giếng Xó La) ở đảo Lý Sơn
Trước khi có nước giếng khoan, Giếng Vua (hay còn gọi là Giếng Xó La) là nguồn cung cấp nước ngọt chính trên đảo Lý Sơn

Tôi nghe cô chủ nhà kể là dù nằm chỉ cách biển vài chục mét nhưng chưa bao giờ thấy giếng Vua cạn nước. Trước đây người dân Lý Sơn hàng ngày vẫn phải xách xô, thùng tới giếng để lấy nước về nấu nước ăn và uống. Trong ký ức của cô và nhiều người dân đảo Lý Sơn, những ngày đạp xe ra Giếng Vua chở nước về có lẽ đã là những mảnh ký ức sẽ theo suốt cuộc đời họ.

Nhưng từ ngày điện về thì mọi thứ đã hoàn toàn thay đổi. Ở Lý Sơn bây giờ hầu hết mỗi nhà đều có một giếng khoan. Những gia đình ở gần cảng không đào được giếng khoan tại nhà, thì họ dẫn nước về từ những mạch nước khoan cách nhà cũng chỉ gần cây số.

Dù nước lấy từ giếng vẫn còn hơi lờ lợ chứ không ngọt được như nước Giếng Vua, nhưng chỉ cần sắm một máy lọc nước là đã có nước ngọt để sử dụng.

Ngoài nước ngọt ở Giếng Vua, ngay giữa miệng núi Thới Lới cũng có một hồ nước ngọt lớn, nhưng nước ở đây được dẫn về chỉ để phục vụ tưới tiêu cho hành, tỏi trồng trên đảo Lý Sơn.

Sau khi có điện lưới quốc gia, gần như toàn bộ các cánh đồng tỏi đều được người dân áp dụng công nghệ béc phun sương tưới nước tự động giúp cắt giảm được rất nhiều chi phí. Dạo quanh cả huyện đảo, không khó để nhìn ngắm những ống nhựa gắn Béc phun sương thẳng tắp xen lẫn giữa những cánh đồng tỏi. 

Hệ thống béc phun sương trên mọi cánh đồng tỏi ở Lý Sơn
Hệ thống béc phun sương trên hầu khắp các cánh đồng tỏi ở Lý Sơn

Du lịch Lý Sơn nở rộ

Chỉ sau gần 2 năm, bộ mặt đảo Lý Sơn thay đổi nhanh chóng. Nhờ sở hữu không ít thắng cảnh đẹp cùng sự đầu tư từ tỉnh Quảng Ngãi, du lịch trên đảo Lý Sơn bắt đầu phát triển nhanh chóng.

Các doanh nghiệp từ mọi nơi đổ bộ đầu tư trên đảo, ngay cả người dân trên đảo cũng sẵn sàng đổ tiền để khai thác lịch ích từ du lịch. Tàu cao tốc đưa vào khai thác ngày càng nhiều chuyến với bốn, năm hãng tàu khác nhau. Khách sạn ở khu vực cầu cảng cho tới lân cận cũng  mọc lên như nấm. Hành tỏi và các món hải sản khổ trở thành những thứ quà lưu niệm quý giá đậm tính địa phương.

Những ngày cuối tuần hoặc dịp cao điểm, ghé thăm Lý Sơn thường phải đặt trước vé tàu và khách sạn nếu không muốn bỏ lỡ hành trình. Về những kinh nghiệm đi lại ăn ở liên quan tới chuyện đi Lý Sơn chắc mình sẽ kể lể trong một bài viết khác.

Ở Lý Sơn, Tỏi là một thứ quà lưu niệm đối với mọi du khách khi ghé thăm
Du lịch phát triển, nhiều người dân bỏ các công việc truyền thống để chuyển sang các công việc chạy theo du lịch

Một điều tôi không thích nhất khi tới Lý Sơn những ngày này là việc khắp nơi đâu đâu cũng bụi. Bụi cát của một Lý Sơn đầy nắng gió đã đành, giờ còn thêm bụi của máy cắt bê tông, cần cẩu, xe tải,… và của cả xe máy khách du lịch tấp nập trên những con đường đất cát đã xuống cấp.

Cuộc sống ở Lý Sơn đổi thay với nhiều tích cực. Nhưng trong câu chuyện của mỗi người tôi được gặp nơi đây lại luôn thấp thoáng một nỗi buồn chung.

Đó, khách sạn có cho nó làm đó chứ, mà nó có thèm ở nhà đâu.” Cô chủ nhà thở dài, cái thở dài không phải chỉ một lần mà tôi nhớ mãi.

Nỗi niềm của cô cũng như của chú Nguyễn Sỹ, ông Từ đình làng An Hải, hay của rất nhiều lớn tuổi khác nơi đây. Trong tâm tư của những con người một đời gắn với Lý Sơn hình như vẫn mâu thuẫn giữa hai luồng nhận thức: để những đứa con, đứa cháu của họ ra đi hay giữ chúng ở lại dù biết cũng chảng cách gì giữ được.

Chuyện ấy chẳng riêng gì ở Lý Sơn mà tồn tại ở rất nhiều nơi. Nhưng tôi thì có một niềm tin mãnh liệt, người trẻ đi để rồi sẽ trở về.

Nay mai Lý Sơn làm ăn được, rồi nó sẽ kéo nhau về cả thôi”. Tôi cợt nhả.

Mỗi lần nghe tôi nói vậy cô chủ khách sạn lại cười lớn. “Ừ ừ chắc thế đó con.

Đọc thêm: Chuyện làm du lịch của người dân tộc ở Sa Pa

Posts Tagged with…

Write a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *